Thống kê

Truy cập hôm nay 41
Tổng lượt truy cập 928253
Đặt câu hỏi
Họ tên
Điện thoại
Câu hỏi đặt ra
Hỏi Đáp

Kiến Thức Cơ Bản Về Phân Bón

                                                                                                Hai Quang sưu tầm

             A.  Khái Niệm Về Phân Bón

            Phân bón là thức ăn của cây trồng, thiếu phân cây không thể sinh trưởng và cho năng suất, phẩm chất cao. Phân bón có vai trò rất quan trọng trong việc thâm canh tăng năng suất, bảo vệ cây trồng và nâng cao độ phì nhiêu của đất.

           I- Cây Hút Thức Ăn Nhờ Gì ?

1- Nhờ bộ rễ: Không phải toàn bộ các phần của rễ đều hút dinh dưỡng mà là nhờ miền lông hút rất nhỏ trên rễ tơ. Từ một rễ cái, bộ rễ được phân nhánh rất nhiều cấp, nhờ vậy tổng cộng diện tích hút dinh dưỡng từ đất của cây rất lớn. Rễ hút nước trong đất và một số nguyên tố hòa tan trong dung dịch đất như: đạm, lân, kali, lưu huỳnh, manhê, canxi và các nguyên tố vi lượng khác, bộ rễ là cơ quan chính lấy thức ăn cho cây.

 2- Nhờ bộ lá: Bộ lá và các bộ phận khác trên mặt đất, kể cả vỏ cây cũng có thể hấp thu trực tiếp các dưỡng chất. Ở trên lá có rất nhiều lỗ nhỏ(khí khổng). Khí khổng là nơi hấp thụ các chất dinh dưỡng bằng con đường phun qua lá. Trên cây một lá mầm(đơn tử diệp)khí khổng thường phân bố cả 2 mặt lá, thậm chí mặt trên lá nhiều hơn mặt dưới lá như: lúa , lúa mì…;trên cây ăn trái(cây thân gỗ)khí khổng thường tập trung nhiểu ở mặt dưới lá. Khi dùng phân bón lá phải theo đặc điểm cây trồng và đúng hướng dẫn thì lá cây mới hấp thụ cao được.

             II – Các Chất Dinh Dưỡng Cần Thiết Cho Cây

-Đa lượng: Đạm(N), Lân(P), Kali(K).

-Trung lượng: Canxi(Ca), Lưu Huỳnh(S), Ma-nhê(Mg)…

-Vi Lượng: Sắt(Fe), Kẽm(Zn), Mangan(Mn), Bo(B), Đồng(Cu), Molypden(Mo), Clo(Cl)

 1- Chất đạm(N)

-Khi thiếu: cành lá sinh trưởng kém, lá non nhỏ, lá già dễ bị rụng, bộ rễ ít pháp triển, năng suất kém…

-Khi dư: cây sinh trưởng rất mạnh, lá to, tán lá rườm rà, mềm yếu, dễ đỗ ngã, sâu bệnh dễ phá hại…

 2- Chất Lân (P)

-Khi thiếu: rễ phát triễn kém, lá mỏng có thể chuyển màu tím đỏ, ảnh hưởng tới việc ra hoa của cây;trái thường có vỏ dày, xốp và dễ hư…

-Nếu dư rất khó phát hiện, tuy nhiên dễ  làm cho cây thiếu kẽm và đồng. .

 3 Chất Kali: (K)

-Khi thiếu, ban đầu đỉnh lá già bị cháy;thiếu nặng, phần lớn lá bị cháy và rụng đi.

- Nếu dư cũng khó nhận diện, tuy nhiên trên cam khi bón kali nhiều quá trái trở nên sần sùi.

 4- Chất Canxi(Ca):

-Khi thiếu: Lá và đọt non dễ bị cong queo và nhỏ, mép lá không đều, hay có hiện tượng chồi chết ngọn, rễ đình trệ sinh trưởng và thường bị thối…

-Không có triệu chứng dư, tuy nhiên khi lượng canxi cao thường gây thiếu: B, Mn, Fe, Zn, Cu…

 5- Chất lưu huỳnh(S);Khi thiếu, triệu chứng thể hiện giống như thiếu chất đạm;lá nhỏ, vàng đều, rụng sớm, chồi ngọn chết(thiếu lưu huỳnh lá vàng từ ngọn xuống còn thiếu đạm thì vàng từ lá già lên)

 6-Chất Ma-nhê (Mg):

-Nếu thiếu: lá trở nên nhỏ, xuất hiện những vùng sáng giữa những gân lá, lá bị rụng sớm, hoa ra ít, rễ kém phát triển…

-Nếu thừa: lá bị đổi dạng thường cuốn theo hình xoắn ốc và rụng…

 7- Chất Bo(B):  Đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành phấn hoa, thiếu Bo hoa dễ bị rụng hoặc hạt bị lép. đối với một số cây như củ caỉo thiếu Bo ruột sẽ bị rỗng. Cây trồng nói chung thiếu Bo dễ bị sâu bệnh phá hại, khả năng chống chịu điều kiện bất lợi kém.

 8- Chất đồng(Cu):  Ảnh hưởng đến sự tổng hợp nhiều chất dinh dưỡng của cây trồng, có vai trò quan trọng trong quá trình sinh trưởng phát triển của cây;giúp cây tăng khả năng chịu hạn, chịu nóng,  chịu lạnh…

 9- Chất Kẽm (Zn):  Vai trò quan trọng trong việc tổng hợp chất đạm… ngoài ra còn liên quan mật thiết đến việc hình thành các chất điều hòa sinh trưởng trong cây…Thiếu kẽm năng suất, phẩm chất cây trồng giảm.

 10- Molipden(Mo):  Tham gia các quá trình trao đổi chất, tổng hợp chất diệp lục…Đặc biệt đối với cây họ đậu nếu thiếu Mo;cây phát triển kém, nốt sần giảm, hạn chế sự cố định đạm tự do

         B.  Phân Hữu Cơ

            Là phân chứa những chất dinh dưỡng ở dạng những hợp chất hữu cơ như: phân chuồng, phân xanh, phân than bùn, phụ phế phẩm nông nghiệp, phân rác…

             I. Phân Chuồng:

1. Đặc diểm:  Phân chuồng là hổn hợp chủ yếu của: phân, nước tiểu gia súc và chất độn. Nó không những cung cấp thức ăn cho cây trồng mà còn bổ sung chất hữu cơ cho đất giúp cho đất được tơi xốp, tăng độ phì nhiêu, tăng hiệu quả sử dụng phân hóa học…

 .  Chế biến phân chuồng:  Có 3 phương pháp

2. 1.  Ủ nóng (ủ xốp):  Lấy phân ra khỏi chuồng, chất thành lớp, không được nén, tưới nước, giữ ẩm 60-70%,  có thể trộn thêm 1% vôi bột và 1-2% Super Lân, sau đó trét bùn che phủ cho kín hàng ngày tưới nước, thời gian ủ ngắn 30-40 ngày, ủ xong là sử dụng được.

2. 2.  Ủ nguội (ủ chặt): Lấy phân ra khỏi chuồng xếp thành lớp, mỗi lớp rắc khoảng

(2%) lân, nén chặt. Đống phân ủ rộng khoảng 2-3m, cao 1, 5-2m, trét bùn bên ngoài tránh mưa. Thời gian ủ lâu, 5-6 tháng mới xong.

2. 3. Ủ nóng trước nguội sau: nóng 5-6 ngày, khi nhiệt độ 50-60°c nén chặt ủ tiếp lớp khác lên trên, trét bùn kín, có thể cho thêm vào đống phân ủ các loại phân khác như: phân thỏ, gà, vịt làm phân men để tăng chất lượng phân.

             II.  Phân Rác

1- Đặc điểm ; Là phân hữu cơ được chế biến từ: cỏ dại, rác, thân lá cây xanh, rơm rạ…ủ với một số phân men như phân chuồng, lân, vôi…đến khi mục thành phân(thành phần dinh dưỡng thấp hơn phân chuồng).

 2- Cách ủ:  Nguyên liệu chính là phân rác 70%, cung cấp thêm đạm và Kali 2%, còn lại phân men(phân chuồng, lân, vôi). Nguyên liệu được chặt ra thành đoạn ngắn 20-30cm xếp thành lớp cứ 30cm rắc một lớp vôi;trét bùn;ủ khoảng 20 ngày đảo lại rắc thêm phân men, xếp đủ cao trét bùn lại, để hở lỗ tưới nước thường xuyên;ủ khoãng 60 ngày dùng bón lót, để lâu hơn khi phân hoai có thể dùng để bón thúc.

             III.  Phân Xanh

1-Đặc diểm:  Phân xanh là phân hữu cơ sử dụng các loại cây lá tươi bón ngay vào đất không qua quá trình ủ do đó chỉ dùng để bón lót. Cây phân xanh thường được dùng là cây họ đậu:  điền thanh, muồng, keo dậu, cỏ Stylo, điên điển…

2-Cách sử dụng:  Vùi cây phân xanh vào đất khi cây ra hoa, bón lót lúc làm đất.

             IV.  Phân Vi Sinh

1-Đặc điểm:  Là chế phẩm phân bón được sản xuất bằng cách dùng các loại vi sinh vật hữu ích cấy vào môi trường là chát hữu cơ(như bột than bùn). Khi bón cho đất các chủng loại vi sinhy vật sẽ phát huy vai trò của nó như phân giải chất dinh dưỡng khó tiêu thành dễ tiêu cho cây hấp thụ, hoặc hút đạm khí trời để bổ sung cho đất và cây.

 2- Các loại phân trên thị trường:

2. 1.  Phân vi sinh cố định đạm:

-Phân vi sinh cố định đạm, sống cộng sinh với cây họ đậu: Nitragin, Rhidafo…

-Phân vi sinh cố định đạm, sống tự do:  Azotobacterin…

 . 2.  Phân vi sinh phân giải lân:  Phân lân hữu cơ vi sinh Komix và nhiều loại phân vi sinh phân giải lân khác có tính năng tác dụng giống như nhau.

 2. 3.  Phân vi sinh phân giải chất xơ:  chứa các chủng vi sinh vật giúp tăng cường phân giải xác bả thực vật…

* Ngoài ra trên thị trường còn có những loại phân khác với tên thương phẩm khác nhau nhưng tính năng tác dụng thì cũng giống như các loại phân kể trên.

 3- Cách sử dụng phân hữu cơ vi sinh:  Thời gian sử dụng phân có hạn, tùy loại thường từ 1-6 tháng(chú ý xem thời hạn sử dụng). Phân vi sinh phát huy hiệu lực ở:  vùng đất mới, đất phèn, những vùng đất bị thoái hóa mất kết cấu do bón phân hóa học lâu ngày, vùng chưa trồng các cây có vi khuẩn cộng sinh… thì mới có hiệu quả cao.

             V .  Phân Sinh Học Hữu Cơ.

1- Đặc điểm:  Là loại phân có nguồn gốc hữu cơ được sản xuất bằng công nghệ sinh học(như lên men vi sinh) và phối trộn thêm một số hoạt chất khác để làm tăng độ hữu hiệu của phân, hoặc khi bón vào đất sẽ tạo môi trường cho các quá trình sinh học trong đất diễn ra thuận lợi góp phần làm tăng năng suất cây trồng, phổ biến như:  Phân bón Komix nền…

 2- Sử dụng:  Phân sinh hóa hữu cơ được sản xuất ở dạng bột hoặc dạng lỏng;có thể phun lên lá hoặc bón gốc. Các loại phân sinh hóa hữu cơ hiện nay được sản xuất theo hướng chuyên dùng như phân sinh hóa hữu cơ Komix chuyên dùng cho:  cây ăn trái , lúa, mía…

            C.  Phân Vô Cơ

            Phân vô cơ hay phân hóa học là các loại phân có chứa yếu tố dinh dưỡng dưới dạng muối khoáng(vô cơ) thu được nhờ các quá trình vật lý, hóa học.

 Một Số Phân Bón Vô Cơ Thông dụng Hiện Nay

 I Phân Đơn:  Là loại phân chỉ chứa 1 trong 3 nguyên tố dinh dưỡng chủ yếu là N, P hoặc K

1- Phân đạm vô cơ gồm có:

1. 1- Phân Urea [CO(NH2)2] có 46%N

1. 2- Phân đạm Sunphat còn gọi là đạm SA [(NH4)2SO4] chứa 21%N

1. 3- Phân Clorua Amon [NH4Cl] có chứa 24-25% N

1. 4- Phân Nitrat Amon [NH4NO3] có chứa khoảng 35% N

1. 5- Phân Nitrat Canxi [Ca(NO3)2] có chứa 13-15% N

1. 6- Phân Nitrat Natri [NaNO3] có chứa 15-16% N

1. 7- Phân Cyanamit Canxi [CaCN2] có chứa 20-21% N

 2-Phân Lân:

2. 1- Phân Super Lân[Ca(H2PO4)2] có chứa 16-20% P2O5]

2. 2- Phân Lân nung chảy (Thermophotphat, Lân văn điển) có chứa 16% P2O5

 3- Phân Kali

3. 1- Phân Clorua Kali (KCl) có chứa 60% K2O.

3. 2- Phân Sunphat Kali (K2SO4) có chứa 48-50% K2O

 II.  Phân Hổn Hợp:  Là những loại phân có chứa ít nhất là 2 dưỡng chất. Chúng bao gồm phân trộn và phân phức hợp. Hàm lượng dinh dưỡng trong phân theo thứ tự là N, P, K được tính theo nồng độ phần trăm. Ví dụ:  Phân NPK 16-16-8 tức là trong 100kg phân trên có 16kg đạm nguyên chất, 16kg P2O5 và 8kg K2O…Ngoài các chất đa lượng N, P, K hiện nay ở một số chủng loại phân còn có cả các chất trung và vi lượng. Ví dụ:  Phân NPK Việt-Nhật 16. 16. 8+13S (S là lưu huỳnh)…Thông thường phân hổn hợp có 2 loại:

 1. -Phân trộn:  Là phân được tạo thành  do sự trộn đều các loại phân N. P. K… mà không có sự tổ hợp hóa học giũa những chất đó. Loại phân này thường có nhiều màu.

 2. - Phân phức hợp:  Là loại phân có được do con đường phản ứng hóa học từ những nguyên liệu căn bản để tạo ra.

 3. -Các dạng phân hổn hợp:

3. 1-Các dạng phân đôi:  Là loại phân hỗn hợp có 2 dưỡng chất quan trọng

-MAP ( Monoamonium Phosphate) hàm lượng phổ biến là 12-61-0

-MKP ( Mono potassium Phosphate) hàm lượng phổ biến là 0-52-34

-DAP Diamon Phosphate ) hàm lượng phổ biến là 18-46-0

 3. 2.  Các dạng phân ba NPK thường là:

16-16-8, 20-20-15, 24-24-20…

 3. 3.  Phân chuyên dùng:  Là dạng phân bón hổn hợp có chứa các yếu tố đa, trung, vi lượng phù hợp với từng loại cây trồng, từng thời kỳ sinh trưởng và phát triển của cây.

 -Ưu điểm của phân chuyên dùng:  rất tiện lợi khi sử dụng , góp phần làm giảm chi phí sản xuất;do đã được tính toán liều lượng phân tùy theo từng loại cây, tùy theo giai đoạn sinh trưởng-phát triển của cây trồng nên đảm bảo được năng suất, chất lượng cây trồng.

-Hiện nay trên thị trường có nhiều chủng loại phân chuyên dùng, khi sử dụng nên chú ý theo hướng dẫn cũa nhà sản xuất. . Ví dụ:  Phân chuyên dùng của công ty phân bón Việt –Nhật JF
1, JF2, JF3 chuyên dùng cho lúa. JT1, JT2JT3
chuyên dùng cho cây ăn trái.

 Hỏi:

Cho tôi hỏi khi sử dụng phun thuốc bảo vệ thực vật có người nói tôi phải thực hiện 4 đúng, đề nghị chỉ cho tôi thực hiện về 4 đúng. cám ơn

Trả lời:
Trong quá trình sử dụng thuốc Bảo vệ thực vật để đạt hiệu quả cần áp dụng nguyên tắc 4 đúng cơ bản như sau:

1/ Đúng thuốc: Trên cơ sở loại dịch hại cần phải diệt trừ và loại cây trồng cần được bảo vệ để chọn đúng loại thuốc và dạng thuốc cần sử dụng.

2/ Đúng lúc: Dùng thuốc khi sinh vật gây hại cho cây trồng còn ở mức độ thấp và chúng đang ở thời kỳ dễ mẫn cảm với thuốc như: bệnh mới bắt đầu xuất hiện, sâu còn non.

3/ Đúng nồng độ và liều lượng: dựa vào hướng dẫn ghi trên nhãn thuốc để bảo đảm đúng đúng nồng độ và liều lượng của thuốc cần sử dụng trên 1 đơn vị diện tích cây trồng.

4/ Đúng cách: Tùy theo từng bộ phận cây trồng có cách sử dụng khác nhau như: phun, xịt, rải hay tưới thuốc quanh gốc cho đều, chú ý đến các khu vực sâu bệnh tập trung theo hướng dẫn ghi trên nhãn thuốc.

Hỏi: * Xin cho biết sau khi khai thác mủ 1 năm: 1.2-1,7 tấn mủ khô thì cần bón phân gì và theo công thức nào? Xin cho biết thành phần N,P,K của mủ cao su khô?

Trần Thị Huệ, Cty TNHH Thống Nhất, Yên Định, Thanh Hóa

Trả lời: Theo các chuyên gia về cao su thì với cao su đang khai thác nên bón phân theo chế độ sau đây: Với năm cạo từ 1 đến 10 năm nên bón cho mỗi ha 152-196 kg urê, 400-500 kg lân nung chảy và 117-150 kg KCl (tùy từng loại đất). Với năm cạo từ 11 đến 20 năm nên bón cho mỗi ha 217 kg urê, 500 kg lân nung chảy và 167 kg KCl.

Về mặt hóa học, cao su thiên nhiên là polyisopren - polyme của isopren. Mạch đại phân tử của cao su thiên nhiên được hình thành từ các mắt xích isopren đồng phân cis liên kết với nhau ở vị trí 1,4. Như vậy là mủ cao su khô không chứa nhiều N, P, K. Các nguyên tố đa lượng này chỉ cần cho sự phát triển của bản thân cây cao su.

 

 Hỏi: Hiện nay trường đại học Nông Lâm TP HCM có cung cấp giống ca cao gồm 2 loại ca cao lai và ca cao ghép. Xin hỏi sự khác nhau và ưu điểm của từng loại. Tôi dự định trồng ca cao xen vườn điều 1 năm tuổi nhưng không biết nên trồng loại ca cao nào là hiệu quả. Giá cao cao lai là 2500đ/cây, ca cao ghép là 5500đ/cây. Sự chênh lệch giá khiến tôi rất phân vân.

Trả lời

Hiện nay các loại cây giống có thể được phân biệt theo hai dòng: vô tính và hữu tính (hybrid)

- Cây hữu tính gọi là cây lai. Cây nhân giống hữu tính là cây gieo từ hạt và chịu ảnh hưởng tính phân ly di truyền nghĩa là trong các cây lai sẽ có cây mang tính trội của bố hoặc mẹ về năng suất, chất lượng,tính kháng bệnh... và sẽ có một số cây bị phân ly bởi tính lặn di truyền nên sẽ kém hơn. Do đó khi bạn trồng cây lai bạn sẽ không thể đạt được tỷ lệ cao về chất lượng, năng suất hạt. Nghĩa là cây lai sẽ cho ta chất lượng và năng suất không đều giữa các cây

- Cây ghép được gọi là cây vô tính . Đây là cây được tách từ chồi từ cây gốc nên nó giữ nguyên đặc tính của cây gốc. Do đó trồng cây ghép sẽ cho năng suất và chất lượng đồng đều nhau và hiệu quả cao hơn cây lai.

Vì lẽ đó mà giá cây lai và cây ghép có sự chênh lệch lớn như bạn nêu.

 

  1. Hỏi: Tại sao gọi đất nặng đất nhẹ ?

Đáp: Tên gọi đất “nặng” hay “nhẹ” là cách gọi theo tỷ lệ của thành phần sét/cát có trong đất, còn được gọi là thành phần cơ giới đất. Đất được hình thành từ tổ hợp của những hạt đất có kích thước khác nhau hay thành phần cấp hạt cơ giới. Cấp hạt thật mịn (kích thước<0,002mm) gọi là sét, hạt thô cứng (kích thước >0,002mmm) như cát ta gặp hàng ngày gọi là cát. Theo phân cấp hệ thống của Katrinxki (Liên Xô cũ), thì kích thước các cấp hạt cơ giới này còn được xác định ở mức nhỏ hơn. Cấp hạt sét có kích thước <0,001mm và cấp hạt cát kích thước >0,001mm. Có những hạt trung gian giữa cát và sét gọi là bụi hay limon.

Đất có thành phần cơ giới chứa nhiều sét(đất mịn) thì gọi là đất sét-hay đất này nặng. Đất có thành phần cơ giới nhiều cát gọi là đất cát-hay đất nhẹ. Đất có thành phần cơ giới chứa cát và sét trung gian gọi là đất thịt – đất thịt trung bình. Các đất như đất phèn hay đất phù sa sông Lũy trồng 2 vụ lúa trong năm ở Bắc Bình chủ yếu thuộc loại đất có thành phần cơ giới “nặng”. Đất cát đỏ, cát trắng ven biển, các cồn cát là đất thuộc loại đất có thành phần cơ giới “nhẹ”.

Bảng 4. Thành phần cơ giới đất tương ứng ở (hình 1)

TPCG

Kết quả khi vẽ

Hình

Đất cát

Đất rời rạc chỉ có thể vun thành hình tháp được.

A

Đất cát pha

Đất có ít limon và sét, có thể hơi dính và có thể vẽ tròn được nhưng không hoàn chình hòn bi. Không vê thành hình sợi được.

B

Thịt nhẹ

Hơi dính và có thể vê thành sợi được nhưng nứt nẻ và không vê sợi được.

C

Đất thịt

Vê thành sợi, có nứt nhỏ. Không khoang lại được.

D

Thịt pha sét

Vê thành sợi không bị nứt nẻ, vê thành hình chữ U không gãy. Nhưng không khoang tròn được.

E

Đất sét nhẹ

Vê thành sợi không bị rạn nứt.khi khoang tròn bị gãy.

F

Đất sét

Vê thành sợi không nứt nẻ, khi khoang tròn không bị gãy.

G

Đất chứa nhiều sét như như đất thịt, đất sét có nhiều chất màu, thường tốt hơn nhiều so với đất cát, đất nhẹ. Cát sét chứa nhiều dinh dưỡng, khả năng hút và giữ dinh dưỡng cũng như giữ ẩm cao hơn nhiều so với các hạt cát. Chính vì vậy mà đất sét giàu dinh dưỡng, giàu mùn đất hơn đất cát. Nghĩa là đất sét có tiềm năng về độ màu mỡ cao hơn đất cát.

Nhận biết thành phần cơ giới đất cách đơn giản nhất là vê bằng tay ngoài đồng. Lấy một ít đất lên tay, nếu khô thì thêm ít nước, vê thành sợi. Tùy theo thành phần cơ giới đất nhiều sét hay ít sét mà có thể vê thành sợi hay không và khi vê thành sợi có khoang tròn được hay không mà đánh giá thành phần cơ giới của đất. Kết quả hình 1 được giải thích ở bảng 4.

  1. Hỏi: Đất nặng nhẹ có ý nghĩa như thế nào ?

Đáp: biết đất nặng hay nhẹ có nhiều lợi ích. Trước hết ta biết được đất nặng hay đất nhẹ là biết hàm lượng sét nhiều hay ít trong đất, nói lên tiềm năng tốt xấu của đất. Trong đất thịt, sét (nặng) thường chứa nhiều chất mùn, dinh dưỡng. Ngược lại, đất cát (nhẹ) thường chứa hàm lượng mùn đất thấp, nghèo dưỡng chất cho cây hút thu, thường cho năng suất thấp.

Biết đất nặng hay nhẹ giúp ta lựa chọn ký thuật bón phân thích hợp. Đất sét, đất thịt có thể giứ ẩm, giữ dưỡng chất tốt hơn. Những đất nặng có thể bón được nhiều phân, bón vôi khử chua có thể chia ra ít lần bón. Đất nhẹ (cát) do khả năng hút thu, giữ ẩm và phân bón kém, khả năng đệm rất thấp thì phải bón lượng phân và vôi ít hơn, nhưng phải chia ra nhiều lần hơn để tránh mất và tránh ngộ độc cây ngay sau khi mới bón.

Đất có thành phần cơ giới nặng có khả năng giứ nước, hấp ẩm tốt hơn nhiều so với đất nhẹ. Do đó khi tưới cho đất nặng có thể tưới được nhiều trong mỗi lần và tưới ít lần. Ngược lại, đất nhẹ phải tưới nhiều lần và mỗi lần tưới lượng nước ít hơn, để tránh lãng phí nước và trôi màu, phân bón.

1.1.1.  Độ màu mỡ (độ phì nhiêu) của đất

  1. Hỏi: Độ màu mỡ của đất do cái gì tạo ra ?

Đáp: Độ màu mỡ, thuật ngữ khoa học gọi là “độ phì nhiêu” của đất. Đó là khả năng mà đất có thể cung cấp đầy đủ thức ăn (dưỡng chất), nước, không khí và những điều kiện khác đảm bảo cho cây sinh trưởng, phát triển cho năng suất. Khả năng này của đất càng tốt, cây cho năng suất càng cao thì đất càng màu mỡ, tức là càng phì nhiêu. Cây trên đất nào mà cho năng suất thấp, thì đất đó có độ màu mỡ (độ phì nhiêu) kém.

Liên hệ đến thành phần cơ giới và màu sắc đất cho thấy: Đất nặng (đất thịt, sét) màu sắc tối (màu đen, nâu đen, nâu thẫm...) thường có đọ màu mỡ cao hơn đất nhẹ (đất cát, cát pha) màu sáng, xám, xám bạc. Như vậy, màu sắc, thành phần cơ giới của đất gián tiếp nói lên độ màu mỡ của đất.

Qua màu sác đất có thể phán đoán đất tốt hay xấu, đất thường thiếu hay giàu những dưỡng chất nào.

Kết quả phân tích ở bảng 5 cho nhận định chung là đất ở huyện Bắc Bình có đọ màu mỡ kém, có thể xếp vào loại đất thoái hóa. Tầng canh tác (tầng mặt) có độ dày mỏng,hầu hết dưới 20cm. Hàm lượng chất hữu cơ, đạm tổng số quá nghèo kiệt.

Các chất dễ tiêu khác như lân, kali cũng rất thấp, thiếu hụt đối với nhu cầu của cây.  Đây là một thực trạng mà gây hạn chế lớn cho việc phát triển nông nghiệp của huyện. Để phát triển tốt ở đây cần có sự nỗ lực lớn trong việc nghiên cứu để tìm ra những giải pháp thích hợp trong cải tạo đất, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, cơ cấu sử dụng đất phù hợp với điều kiện đất nghèo, khí hậu khô hạn nóng của vùng.

 

 

1.2.            TÍNH CHẤT HÓA HỌC CỦA ĐẤT, VAI TRÒ CỦA CHÚNG

1.2.1.      Độ chua của đất và cải thiện nó

1.                  Hỏi: Hiểu như thế nào là độ chua của đất?

Đáp: Trong dung dịch đất chứa nhiều chất có tính axít, gây chua cho đất. Để đánh giá đất chua hay không chua người ta dùng chỉ tiêu pH. Đây là ký hiệu để chỉ độ chua.

Bảng 6. Phân cấp độ chua của đất theo giá trị pH

pHH2O

pHKCL

Cấp độ chua

<4,6

<3,5

Quá chua

4,6-5,5

3,5-4,5

Rất chua

5,6-6,5

4,6-5,5

Chua ít

6,6-7,5

5,6-6,5

Trung tính

7,6-8,5

>6,5

Kiềm

8,6-9,1

 

Kiềm mạnh

>9,1

 

Quá kiềm

Ngược lại với trị số tuyện đối của pH, đất có giá trị pH càng cao thì càng ít chua,tức là đất càng có tính kiềm. Đất có giá trị pH càng nhỏ thì đất càng chua nhiều, đất có phản ứng axít mạnh. Tùy theo phương pháp phân tích mà có pH nước (pHH2O) và pH muối (pH­­KCL). Phổ biến trong chỉ đạo bón vôi, cải tạo đất người ta dùng pHH2O.

Các loại cây trồng có phản ứng thích hợp với một phạm vi độ chua nhất định (bảng 7). Nếu ngoài phạm vi đó, có thể đất chua quá hay kiềm quá cây sinh trưởng, phát triển đều bất lợi. Nếu quá giới hạn nhất định nào đó của độ chua hay kiềm cây có thể bị chết.

Bảng 7. Phạm vi thích ứng đối với pH đất của một số loại cây trồng

Cây

pH

Cây

pH

Bông

5,0-7,0

Lạc

5,5-6,5

Chè

4,5-5,5

Lúa

5,5-6,5

Dưa chuột

6,4-7,0

Mía

5,5-7,5

Dưa hấu

5,5-6,5

Ngô

6,0-7,2

Đậu tương

6,0-6,5

Khoai tây

5,0-5,5

Sắn

5,0-7,5

Thuốc lá

6,0-8,0

Bảng 8. Tình hình độ chua của đất Bắc Bình

Đất, cây trông

Độ sâu (cm)

pHKCL

pHH2O

Đất 2 lúa, Ma tá 2, Phan Hòa

0-15

15-30

4,38

4,19

4,78

4,76

Cát trắng, lạc lúa Hòa Thắng

0-10

10-20

4,31

4,37

5,13

4,89

Đất màu, cát đỏ, Hòa Thắng

0-15

15-55

5,15

4,95

5,87

5,33

Đất lúa, Bầu mím, Phan Hòa

0-15

>15

5,17

4,96

5,76

5,32

Đất 2 Lúa, Cà Tót, Phan Tiến

0-20

20-50

3,81

4,35

4,55

4,86

Đồi cây ăn quả, Phan Tiến

0-17

17-57

4,89

4,25

5,23

4,78

Qua điều tra, khảo sát cho thấy đất Bắc Bình có độ chua được trình bày ở bảng 8.

Hầu hết đất ở huyện Bắc Bình chua đến rất chua. Đây là lý do chính mà cây đậu phộng trồng ở đây thường không chắc hạt, quả lép, năng suất rất thấp. Đất chua làm cho cây đậu phông khó phát triển, không đáp ứng điều kiện môi trường cho hệ vi sinh vật cố định đạm sống và sinh sôi. Khi nhổ cây đậu phộng lên ta thấy bộ rễ phát triển kém, và hầu như không hoặc có rất ít nốt sần “ nhà máy tổng hợp đạm từ khí trời tí hon” sống công sinh trên rễ cây đậu phộng.

2.                  Hỏi: Tác hại của độ chua đất như thế nào?

Đáp: Nói đến đất chua có nghĩa là đất có phản ứng axít. Trong dung dịch càng chùa thì độ hòa tan của các chất càng nhiều, nhất là các muối khoáng. Do độ axít cao trong dung dịch đất chua thường có nhiều chất hòa tan với hàm lượng cao quá mức, gây độc cho cây. Đó là các nguyên tố nhôm(Al), mangan (Mn), sắt(Fe),.... Các nguyên tố này cao quá mức gây ức chế, kìm hãm sự phát triển của rễ cây. Rễ cây không phát triển được nên không hút nước, thức ăn nuôi cây, dẫn đến cây chết. Hoặc cũng có thể các nguyên tố nào đó quá nhiều sẽ ức chế sự hút thu dinh dưỡng đối với các nguyên tố khác, làm mất cân đối dinh dưỡng, cây cũng sinh trưởng phát triển kém. Mặt khác, đất chua ngập nước còn chứa nhiều axít, chất khí có hại như khí meetan (CH4), khí sunfua (H2S),.... Trong đất đồi chua chứa nhiều sắt nhôm, gây kết tủa, cố định chặt lân, làm cho cây không hút được lân, bộ rễ cây kém, thậm chí không phát triển được. Trong trường hợp này hiệu lực phân lân bón cho cây trồng giảm đáng kể.

Đất đồi chua, hầu hết có giá trị pH dưới 4,5, rất nghèo mùn, các dưỡng chất, đặc biệt là lân và kali dễ tiêu. Đồng thời sự mất dinh dưỡng cho cây trồng cũng thường xảy ra trong đất chua.

Vậy, muốn sản xuất trên đất chua có hiệu quả kinh tế cao thì phải cải thiện độ chua của đất.

3.                  Hỏi: Cải thiện độ chua của đất bằng cách nào?

Đáp: Khi đất chua, độ pH xuống dưới 5,5 thì các khoáng sét trong đất bị phá vỡ, giải phóng ra các ion nhôm tự do, di chuyển trong dung dịch đất hoặc hấp thụ trong keo đất. Khi đó nhôm hoạt động này gây ra chua mạnh bất lợi cho cây trồng. Nếu đất chua nhiều, nhôm di động cao thì có thể gây độc cho hệ rễ cây, làm cho rễ bị bó và chùn lại, không phát triển được. Muốn sản xuất được trên những đất này cần thiết phải cải thiện độ chua đất trước khi gieo trồng.

Bảng 9. Mức độ cần bón vôi theo độ chua và thành phần cơ giới đất.

pHKCL của đất

Mức độ cần bón

Lượng vôi (CaO), (tạ/ha)

Đất nhẹ

Đất TB

Đất nặng

<3,5

3,5-4,5

4,5-5,5

5,5-6,5

>6,5

Đặc biệt cần

Cần nhiều

Cần vừa

Cần ít

Không cần

10-20

7-10

5-7

2-5

-

20-30

7-10

7-8

3-4

-

30-50

15-20

8-10

4-5

-

 

Để cải thiện độ chua (tăng pH) của đất thì có thể dùng vôi để bón ruộng. Khi bón vôi cho đất chua thì tính kiềm của vôi trung hòa các axít trong đất.

Bảng 9 cho thấy việc tính toán lượng vôi cần bón để cải thiện độc hua còn căn cứ vào khả năng chống chịu độ bão hòa nhôm của cây. Cây có khả năng chống chịu nhôm cao thì lượng bón vôi ít hơn so với cây mẫm cảm với nhôm di động trong dung dịch đất.

Đất từ phản ứng axít (đất chua) chuyển sang đất trung tính (không chua). Khi bón vôi nung (CaO) vào đất, vôi sẽ tôi ra, sau đó vôi sẽ trung hòa độ chua của đất. Kết quả ion H+ gây chua trong keo đất bị Ca2+ của vôi thay thế. Ion H+ được đẩy vào dung dịch đất tham gia với ion OH- của kiềm tạo thành nước, trở nên không chua cho đất.

Bảng 10. Lượng vôi bón tính theo khả năng chịu bão hòa nhôm của cây.

pHH2O

độ bão hòa nhôm, (%)

Lượng vôi cần bón theo cây, (tấn/ha)

Chịu bão hòa nhôm thấp (10-20%). Đậu tương, đậu xanh.

Chịu bão hòa nhôm khá (30-40%). Ngô, lạc.

4,0-4,9

70-30

1-4

1-3

5,0-5,5

30-0

0-4

0-0,5

>4,5

0

0

0

Tuy nhiên tùy theo mức độ chua, và thành phần cơ giới của đất cũng như khả năng thích ứng của từng loại cây trồng mà chọn liều lượng vôi bón thích hợp. Đất chua nhiều phải bón lượng vôi lớn. Đất thịt nặng, đất sét cần bón lượng nhiều hơn đất cát và đất thịt nhẹ. Ngoài ra còn căn cứ vào độ bão hòa nhôm trong đất và khả năng chống chịu nhôm để tính lượng vôi cần bón (bảng 10).

Vôi bón cải thiện độ chua thường được bón trước lúc gieo trồng (kết hợp lúc làm đất). Vôi dùng bón ruộng có thể là đá vôi nghiền, vôi tôi, vôi bột. Nông dân ở phía Bắc thường nung vôi để xây dựng. Loại vôi tốt dùng để xây dựng và các xỉ vôi dùng bón ruộng cải tạo đất rất tốt và kinh tế.

Ngoài vôi, có thể dùng các vật liệu có chứa vôi như vỏ sò, ốc nghiền nhỏ, thạch cao để bón ruộng cũng có khả năng cải thiện độ chua của đất.

1.2.2.      Đất mặn và cải tạo đất mặn

1.                  Hỏi: Độ mặn của đất có hại gì?

Đáp: Đất ở những vùng ven biển thường có nhiễm nước mặn. Quá trình nhiễm mặn làm cho hàm lượng muối ( Na2SO4, NaCl, MgSO4, MgCl2, NaHCO3,...) trong đó đất cao (1,0-51,5%), đất trở nên mặn. Trong đó các muối Natri chiếm ưu thế. Trong muối này ion Na+ đóng vai tró quan trọng, quyết định tính chất của đất mặn.

Khi đất bị mặn thì các tính chất lý hóa học trở nên xấu. Đất mất tính kết cấu, thường nứt nẻ thành tảng, cục lớn, cứng như đá khi khô. Ngược lại bị dính bết lại, dẻo quánh, hạt đất bị trương ra,che hết tát cả lỗ hổng chứa không khí trong đất, đất không thấm được nước, và thiếu không khí cho cây. Tác hại của đất mặn là dung dịch đất có áp suất thẩm thấu lớn, do chứa hàm lượng muối cao. Khi áp suất này của dung dịch đất lên 10-12 atmopher(atm) thì cây không sinh trưởng và phát triển được, vượt quá 40 atm cây bị chết. Ảnh 6 biểu hiện tác hại của đất mặn đối với lúa.

Hơn nữa, đất mặn có nhiều ino hoà tan như Cl-, SO42-, CO3-, Na+, làm ngộ độc cho cây. Nồng độ muối cao làm áp suất thẩm thấu cao, tạo nên áp lực dòng di chuyển các chất dinh dưỡng từ trong tế bào rễ chảy ngược ra ngoài dung dịch đất, hoặc kìm hãm sự thẩm thấu từ ngoài dung dịch đất vào tế bào rễ. Khi nồng độ muối quá cao còn gây đông tụ keo nguyên sinh chất trong tế bào rễ, khi đó quá trình trao đổi chất  trong tế bào không thực hiện được làm cho cây chết. Tác hại của đất mặn đối với lúa được thể hiện ở ảnh 6.

Dựa vào hàm lượng muối tan trong đất, đất mặn được phân ra các cấp mặn như ở bảng 11.

Bảng 11. Phân loại đất mặn theo hàm lượng muối tan.

Hàm lượng muối (%)

Mức độ mặn

>1,0

1,0-0,5

0,5-0,25

<0,25

Rất mặn

Mặn trung bình

Mặn ít

Không mặn

Ngoài ra còn có thể dựa vào độ dẫn điện (EC) của dung dịch đất. Trên nguyên tắc dung dịch đất càng mặn thì nồng độ ion (gồm cả cation-ion dương và anion- ion âm) trong dung dịch càng cao. Nghĩa là nồng độ muối càng cao, thì độ dẫn điện của dung dịch càng mạnh (bảng 12).

Bảng 12. Phân cấp độ mặn của đất theo độ dẫn điện (EC) (Maas và Hoffman, 1977).

Độ mẫn cảm với muối trong đất của cây

EC (dS/m)

Độ mặn của đất

Cây rất mẫn cảm

<0,95

Rất ít mặn

Cây mẫn cảm vừa

0,95-1,90

Mặn ít

Chịu mặn kém

2,0-4,5

Mặn trung bình

Chịu mặn vừa

4,6-7,7

Mặn vừa

Chịu mặn cao

7,8-12,2

Mặn nhiều

Quá mặn đối với cây

>12,2

Rất mặn

Bảng 13. Quan hệ giữa EC đối và năng suất lúa (Achim Doberman và ctv, 2000).

EC (dS/m)

Mức độ độc hại

Mức độ hạn chế sinh trưởng và năng suất lúa.

<2

Thích hợp

Không giảm năng suất lúa

>4

Nhẹ

Giảm nhẹ 10-15%

>6

Độc vừa

Hạn chế sinh trưởng của cây vừa phải, năng suất giảm 20%-50%

>10

Độc

Năng suất giảm >50%

Người ta đã nghiên cứu tìm thấy mooid tương quan giữa độ dẫn điện và sự giảm năng suất lúa (bảng 13)

2.                  Hỏi: Đất mặn có thể cải tạo bằng cách nào?

Đáp: Cải tạo đất mặn, trước thực chất là tìm cách thay thế ino Na+ (của muối) trong dung dịch và trong phức hệ hấp phụ của đất bằng ion khác như Ca2+, Mg2+(vôi, thạch cao).

Để cải tạo đất mặn, người ta dùng thạch cao (CaSO4.2H2O), photpho thạch cao bón ruộng. Khi bón thạch cao, canxi (xem như là vôi) trong thạch cao sẽ tan vào dung dịch đất, thay thế muối (Na+) trong phứa hệ hấp phụ của keo đất. Cũng có thể bón sulfate sắt nhôm để cải tạo đất mặn. Khi bón thạch cao vào đất mặn, quá trình khử mặn trong đất tạo nên muối sulfate natri (Na2SO4). Muối này hòa tan trong dung dịch đất, dễ bị rửa trôi, độ mặn của đất được giảm dần.

Đối với đất mặn chua, trong keo đất bão hòa Na+ gây mặn và H- gây chua thì bòn vôi có thể cải tạo tốt. Khi bón vôi cho đất mặn chua, được gọi là đất chua mặn thì ion gây mặn (Na+) trong keo đất chua mặn thì ion gây mặn (Na+) trong keo đất được đẩy ra dung dịch tác động với OH- của vôi tạo nên kiềm mới (NaOH) khử chua của đất, vừa mất tính mặn trong hệ hấp thụ của đất. Ion H+ gây chua của đất cũng được trung hòa bằng ion OH- của vôi tạo thành nước, giảm độ chua đất.

Bón các sulfate sắt, nhôm luôn được kết hợp với rửa mặn, tưới nươc ngọt. Có như vậy thì mới rửa hết ino Na+(muối) ra khỏi đất, làm mất bản chất gây mặn trong đất được triệt để.

Quá trình khử mặn bằng biện pháp hóa học luôn kèm theo biện pháp thủy lợi thau chua rửa mặn. Hệ thống thau chua rửa mặn gồm kênh thoát nước mặn nhằm rửa mặn ra khỏi ruộng và kênh tưới nước ngọt để thay thế nước mặn làm ngọt hóa đất. Để rửa mặn đào mương rút nước ngầm chứa muối xuống sâu và tiêu nước ngầm chứa muối đi xa.

Tác dụng rửa mặn cũng phụ thuộc vào chất lượng nước tưới. Nước nếu chứa hàm lượng muối cao thì chất lượng kém, không dùng để thau chua, rửa mặn được. (bảng 14).

Cày sâu, nhưng không lật, xới xáo nhiều lần để cát đứt mạch mao dẫn, như vậy sẽ hạn chế được nước ngầm bốc hơi, mang muối đi theo từ dưới lên bề mặt ruộng gây mặn.

Cải tạo đất mặn có thể áp dụng biện pháp sinh học. Chọn hệ thống giống cây trồng có khả năng chịu đựng muối trong đất. Chọn kỹ thuật canh tác hợp lý đảm bảo đất không bị tái mặn trở lại.

Bảng 14. Chất lượng nước tưới cho lúa (Achim Dobermann và ctv, 2000).

pH

EC (dS/m)

Chất lượng nước

6,5-8,0

8,0-8,4

>8,4

<0,5

0-2,0

>2,0

Tốt

Trung bình đến hơi kém

Kém, không thích hợp

 

Phần 2: PHÂN BÓN VÀ TÁC DỤNG CỦA CHÚNG

2.1.            KHÁI NIỆM VỀ PHÂN BÓN

1.                  Hỏi: Phân bón vô cơ là gì?

Đáp: các hợp chất vô cơ được sản xuất ra thông qua các quá trình hóa học (điều chế), dùng bón ruộng để cung cấp dướng chất cho cây trồng là phân vô cơ (còn được gọi là phân khoáng hay phân hóa học). Tùy theo mức độ yêu cầu trong quá trình dinh dưỡng của cây mà phân vô cơ được chia ra phân đa lượng, phân trung lượng vag phân vi lượng. Phân đa lượng là những phân mà trong đó chứa các chất dinh dưỡng mà cây có nhu cầu hút để sinh trưởng phát triển với lượng nhiều. Phân đa lượng phổ biến và cần thường xuyên như là: đạm, lân, kali.

Phân trung, trong phân có chứa các nguyên tố dinh dưỡng mà cây có nhu cầu ở mức vừa phải. Ví dụ như các phân chứa lưu huỳnh(S), chứa magiê(Mg).

Phân vi lượng là những phân chứa các chất dinh dưỡng mà cây cần với lượng rất ít, nhưng không thể thiếu được. Ví dụ như phân chứa Bo, Mo, Zn,...Chúng thường có vai trò trong việc quyết định đến chất lượng nông sản. Phân vi lượng chủ yếu là các phân tăng trưởng và phát dục được dùng phun lá.

Tài liệu này chúng tôi chỉ nêu lên một số phân đa lượng chính.

2.                  Hỏi: Phân đạm là gì và tác dụng của nó như thế nào?

Đáp: Phân đạm là những phân bón có chứa nguyên tố dinh dưỡng nitơ (N), được gọi là đạm. Phân đạm gồm có các dạng phân đạm chính như urea, sulfate amôm đạm (SA), chlorua amôm, nitrate amôm.

Tác dụng của phân đạm được thể hiện qua vai trò của nitơ với cây trồng. Trong cây, nitơ chiếm 1-3% chất khô. Nitơ tham gia thành phàn các axít amin, các hợp chất protein. Nitơ chứa nhiều trong các bộ phận non của cây. Nitơ thúc đẩy quá trình hình thành cành lá. Thời kỳ non đạm chứa nhiều nhất và cũng là giai đoạn yều cầu về nhiều N của cây. Do vậy phân đạm thường được bón sớm, lúc cây còn non. Nitơ rất quan trọng đối với cây ăn lá, các loại rau.

3.                  Hỏi: Urea là gì, nhân biết nó như thế nào?

Đáp: Urea là một loại phân đạm, có công thức hóa học là [(NH2)2CO2].

Hàm lượng đạm trong phân thương phẩm khá cao, khoảng 45-46%N nguyên chất. Tức là trong 100kg phân urea có khoảng 45-46 kg N nguyên chất.

Khi bón vào đất, tùy thuộc vào nhiệt độ mà urea được biến đối thành muối cacbonate amôn nhanh hay chậm. Nếu nhiệt độ đất 100C thì từ 7 đến 10 ngày sau khi bón urea được phân giải hoàn toàn thành cacbonate amôn (NH4)2CO3; ở 200C sau 4-5 ngày, ở 300C sau 2-3 ngày. Sau đó tiếp tục biển đổi thành amôni (NH4+) trong dung dịch đất. Cây hút đạm ở dạng ion NH4+ khi được phân giải ra từ urea bón vào ruộng. Lượng phân giải ra cây chưa hút có thể được hấp thụ trong đất, từ đó giải phóng dần ra cho cây hút, cũng có thể bị rửa trôi khỏi đất.

-                      Urea thích hợp cho cây ăn lá.

-                      Urea có thể bón lót, bón thúc vào đất, cũng có thể phun qua lá với nồng độ 1-2% cho cây hòa thảo, 0,5% cho cây ăn quả, 0,5-1,5% cho cây rau.

4.                  Hỏi: Đạm sulfate ( đạm SA) là gì và nhận biết nó như thế nào?

Đáp: Phân đạm sulfate là muối của hydroxit amôni và axít sulfuric, công thức [(NH4)2SO4].

-                      Nhận biết: Đây là một loại phân kết tinh màu trắng, có hàm lượng đạm nguyên chất khoảng 20-21%N. Ngoài N phân còn chứa S, thích hợp cho cây trồng ưa lưu huỳnh, hay các chân đất thiếu lưu huỳnh.

-                      Bón vào đất, sẽ diễn ra quá trình biến đổi: gốc amôni được keo đất hấp thu, sau đó dần dần giải phóng ra cho cây hút thu. Gốc sulfate tạo thành muối sulfate mới như: CaSO4 (ở đất giàu canxi) H2SO4 (ở đất chua).

-                      Như vậy sản phẩm phân giải đạm sulfate thường tạo nên một lượng axit H2SO4 tự do, nên phân này có tính chua sinh lý. Về nguyên lý,phân này phù hợp với đất kiềm, đất phát triển trên sản phẩm đá vôi. Bón cho đất chua cần kết hợp bón vôi khử chua trước lúc bón đạm sulfate thì hiệu quả cao hơn. Phân đạm SA này thích hợp cho các vùng chuyên canh, đất thiếu lưu huỳnh như cà phê trên đất đỏ bazan, lúa trên đất bạc màu.

5.                  Phân clorua amôn là gì, nhận biết như thế nào?

Đáp: phân clorua amôn kết tinh màu trắng, trắng đục, tinh thể nhỏ hơn, dễ chảy nước hơn đạm sulfate. Hàm lượng đạm chứa 26%N nguyên chất, trong phân thương phẩm chiếm 23-24%N.

-                      Bón vào đất có quá trình phản ứng diễn ra tương tự như đạm sulfate.

-                      Không thích hợp cho một số loại cây trồng như khoai tây, hành tây, cải bắp, thuốc lá. Vì bón đạm clorua cho những cây này, tăng khả năng chứa, trữ nước trong sản phẩm, tăng năng suất giả tao, giảm chất lượng nông sản.

-                      Bón cho lúa có tác dụng tương đương với đạm sulfate amôn. Đối với đất chua bị nhiễm mặn như đất lúa vùng Ma Tá 2 ở Phan Hòa, Bắc Bình thì bón clorua đạm tốt hơn sulfate đạm. Bởi vì trong đất này chua, có thể do ảnh hưởng của xác hữu cơ như sú vẹt ven biển nên tích lũy nhiều lưu huỳnh. Nếu bón thêm sulfate vào thì làm cho đất thêm nhiều axít sulfate hơn. Từ đó mà làm cho đất thêm độ chua.

6.                  Hỏi: Đạm nitrate amôn là gì, nhận biết như thế nào?

Đáp: Đạm nitrate amôn là muối giữa hydroxit amôni và axít nitric, công thức (NH4NO3). Nó còn được gọi là đạm 2 lá, vì có 2 gốc đạm khác nhau NH4+ và NO3--, cây đều hấp thụ dễ dàng.

-                      Nhận biết: Nitrate amôn là dạng khối kết tinh, dễ chảy nước, dễ đóng cục. Hàm lượng N nguyên chất trong phân chiếm khoảng 35%.

-                      Nếu đất chua bón nhiều sắt, bón đạm nitrate, thời gian đầu có thể do pH đất bị giảm, giải phóng ra nhiều Fe tự do có thể gây độc cho cây.

-                      Phân này thích hợp cho các loại cây như: bông, mía, ngô, khoai; nhưng không thích hợp cho lúa nước.

7.                  Hỏi: khi bón phân đạm cần lưu ý điều gì?

Đáp: Những cần điều lưu ý khi bón phân đạm:

-                      Tất cả các cây đều cần đạm, do vậy sử dụng phải tiết kiệm, tránh lãng phí và ô nhiễm môi trường.

-                      Đạm rất dễ bị mất do bị rửa trôi, đặc biệt là đạm nitrate và sulfate nên khi bón chia ra nhiều lần, mỗi lần ít. Đạm được dùng bón thúc là chính, tuy nhiên đất xấu cần bón lót đạm để cho cây non có điều kiện hút thu dễ dàng hơn vầ phát triển tốt. Khi bón cần tránh lúc mưa to, nắng mạnh. Khi mea phùn nhẹ lá còn ướt cũng không được bón phân đạm. Bón lúc này cây dễ bị bỏng, cháy lá do dính phân lên mặt lá.

-                      Bón phân đạm yêu cầu bón đều. Nếu lượng phân ít thì trộn với đất bột để bón cho đều ruộng.

-                      Đất sình, trũng, ruộng bùn sâu, cần cân nhắc kỹ, ruộng chứa nhiều hữu cơ, không nên bón nhiều đạm. Trường hợp này bón nhiều đạm cho đất này cây dễ bi lốp đổ, lúa dễ bị đạo ôn, nhất là vào thời tiết âm u thiếu ánh sáng.

-                      Cây họ đậu có khả năng hút đạm khí trời nên chỉ bón đạm, có thể không bón đạm cho cây họ đậu trồng ở những đất tốt, giàu N.

8.                  Hỏi: Phân lân là gì, tác dụng của nó như thế nào?

Đáp: Phân lân là những phân có chứa nguyên tố dinh dưỡng photpho, dùng bón cho cây trồng. Phân  lân có nhiều loại, có thể được phân ra phân lân thiên nhiên và phân lân chế biến.

·                     Tác dụng của phân lân thể hiện ở vai trò của nguyên tố photpho đối với thực vật. Photpho đóng vai trò quan trọng trong cơ thể thực vật. Nó tham gia tạo nên các vật chất di truyền (ADN, ARN, axit nucleic), các hợp chất cao năng (ADP, ATP...). Quá trình dinh dưỡng lân tăng cường phát triển bộ rễ cây. Cây đủ lân, bộ rễ phát triển sớm, lông hút sum suê, là cơ sở tạo bộ rễ vững chắc, cây hút dinh dưỡng và phát triển tốt. Cây dinh dưỡng đủ lân còn tăng quá trình đơm hoa, kết quả, chắc hạt. Thiếu lân ảnh hưởng xấu đến quá trình hình thành và chắc hạt nên năng suất giảm rõ rệt. Đặc biệt đối với cây họ đậu “không lân, không vôi thì thôi trồng lạc”.

9.                  Hỏi: Lân supe là gì?

Đáp: Lân supe là một muối photpho một canxi (Single supe photphat), công thức thu gọn là Ca(H2PO4)2.

-                      Chất lượng: P2O5 16-18%, axit tự do 4,9%, sắt (Fe2O3) 0,95%, canxi (CaO) 23-24%, Silic (SiO2) 3,78%, Magie (MgO) 1,21%, Flo (F2) 0,82%, nhôm Al2O3 0,71%.

-                      Tính chất nhận biết: dạng bột mịn, màu xám xanh, xám sẫm, dễ đóng cục hơn lân nung chảy. Phân lân supe được sản xuất nhiều nhất ở Nhà máy lân Lâm Thao, do đó phân lân supe còn gọi là phân lân Lâm Thao.

-                      Trong phân có đọ axit dư thừa khá cao, nên phân chua, thích hợp với đất có phản ứng kiềm, trung tính. Tuy nhiên, ở những đất chua thiếu S như đất cà phê Tây Nguyên, nhiều diện tích cây biểu hiện thiếu lưu huỳnh bón lân supe có hiệu quả cao.

10.              Hỏi: Lân nung chảy là gì?

Đáp: Lân nung chảy hay Techmôphotphat được  chế biến bằng cách nung chảy quặng lân với các hợp chất kiềm, để chuyển hóa lân khó tan trong quặng thành lân dễ tan hơn cho cây hấp thu.

-                      Chế biến: Nung nguyên liệu quặng lân tự nhiên với các chất kiềm nhiều Mg như đá xà vân (xecpentin =3MgO2SiO2.2H2O), đá bạch vân (đôlômit = CaCO3MgCO3) quặng olivin (MgFe2SiO4) và silic (SiO2). Khi tác động với các chất kiềm ở điều kiện nhiệt độ cao, các photphate 3 canxi không tan được chuyển sang dạng muối photphate khác dễ tan cho cây. Nguyên tố silic ở đây tăng quá trình phản ứng nhanh hơn khi nung chảy, đồng thời cung cấp silic cho cây, có tác dụng tăng cho cây cứng hơn, chống đổ.

-                      Tính chất nhận biết: Dạng bột mịn, màu xám nâu, nâu tối, khô ít hút ẩm hơn, tơi hơn lân supe. Phân này được sản xuất nhiều ở Nhà máy phân lân Văn Điển. Do vậy nhiều khi người ta còn gọi lân nung chảy là lân Văn Điển.

-                      Chất lượng: Lân (P2O5) 5-17%, Canxi (CaO) 28-30%, Magie (MgO) 15-18%, Silic (SiO2) 23-27%.

-                      Phân có tính kiềm, phù hợp với đất đồi chua, đất chua. Trong phân chứa hàm lượng Mg khá cao, có tác dụng hạn chế bệnh thối nõn cho một số cây trông như dứa, chuối.

11.              Hỏi: Khi bón phân lân cần lưu ý điều gì?

Đáp: Một số chú ý khi sử dụng phân lân:

-                      Đất không chua hoặc hơi kiềm, nhưng nghèo lân (<0,1% P2O5) rất cần bón lân supe. Tốt nhất là ủ phân với phân chuồng, phân hữu cơ trước lúc bón khoảng 2 tuần.

-                      Các cây có nhu cầu về lân cao là cây đậu đổ, mía, cói, dâu tằm rất cần bón nhiều lân trong mỗi vụ. Tuy nhiên do khả năng cung cấp lân cho cây chậm nên hiệu lực tồn dư của phân lân bón vụ trước có thể kéo dài sau 2-3 vụ. Những vụ tiếp theo có thể giảm sản lượng lân nhất định cũng có thể đủ lân cho cây sinh trưởng bình thường.

-                      Đất chua supe lân có hiệu quả hơn lân nung chảy, ngược lại đất có phản ứng kiềm thì lân nung chảy hiệu quả cao hơn. Bột photphorit bón cho đất chua hiệu lực hơn đất kiềm.

-                      Không trộn lân nung chảy ủ với phân chuồng hay phân hữu cơ khác tránh mất đạm. Có thể trộn lân nung chảy với phân hữu cơ để bón lót cho cây cũng rất tốt.

-                      Ngâm supe vào nước giải vừa tăng lân cho giải đồng thời chống mất N của nước giải.

-                      Phân tự nhiên không chế biến hiệu lực của phân tăng lên nhiều theo độ nghiền mịn của phân.

-                      Do đặc tính của cây có nhu cầu lân rất sớm, lúc còn nhỏ để bộ rễ phát triển. Mặt khác khi bón vào đất thường bị keo đất hấp thụ ngay, sau đó mới được giải phóng dần vào dung dịch đất, cho nên lân cần phải tập trung bón lót.

12.              Hỏi: Phân kali là gì và tác dụng của nó thế nào?

Đáp: Phân kali phần lớn là các muối kali (KCl, K2SO4, KNO3) dùng làm phân bón cho cây trồng.

Vai trò của phân kali cũng được thể hiện qua vai trò của nguyên tố kali đối với thực vật. Trong cây kali tồn tại chủ yếu ở trong dịch tế bào (hơn 80%), một phần nhỏ nữa được các chất keo của tế bào hấp thụ, còn lai khoảng dưới 1% được giữ lại trong chất nguyên sinh của tế bào. Ánh sáng kích thích sự hút kali của cây. Ban ngày cây hút kali mạnh và vận chuyển lên các bộ phận của cây, ban đêm tối ánh sáng yếu kali không được hút lên mà mà một phần kali còn được vân chuyển ngược xuống rễ cây và thoát ra ngoài. Hầu hết kali tồn tại dưới dạng ion K+ kết hợp với các axit hữu cơ tạo nên các muối hòa tan, dễ dàng rút ra bằng nước.

-                      Kali giúp cho quang hợp tiến hành được bình thường, đẩy nhanh quá trình vận chuyển hydrat cacbon tổng hợp từ lá sang các bộ phận khác. Thiếu kali đồng hóa của CO2 của cây kém. Sự chuyển hóa hydrat từ dạng này sang dạng khác bị kìm hãm khi thiếu kali. Đường glucoza chuyển hóa thành sacaroza chậm hoặc đình trệ khi thiếu kali. Do vậy cây không được cung cấp đủ kali thì củ cải đường, mía, đu đủ,...kém ngọt.

-                      Kali giúp cho những cây lấy sợi tạo ra sợi dài và bền hơn. Hầu hết các men (Riboflawin, Thiamin) trong cây hoạt động nhờ có sự kích thích của kali. Kali tạo cho bề dày của các bó mạch gỗ dày hơn nên cây cứng và chống đổ tốt hơn.

-                      Thiếu kali hàm lượng N không protit tăng, sự hình thành N protit giảm, cây yểu lả, dễ bị lụi, bị lốp đổ, cây dễ bị nhiễm bệnh hơn.

-                      Kali trong không bào tăng khả năng chông rét của cây tốt hơn. Khi dinh dưỡng đủ kali, trời rét hiện tượng đông nguyên sinh tế bào được han chế, tăng tính chịu rét cho cây tốt hơn.

-                      Với ngũ cốc, kali tăng sức đẻ nhánh của cây.

13.              Có những loại phân kali chủ yếu nào và cách nhận biết chúng thế nào?

Đáp: Trong thị trường cũng như hàng ngày nông dân ta thường dùng những phân kali phổ biển sau:

·                     Phân kali clorua (KCl) là muối của axit clohydric (HCl) và hydorxit kali (KOH).

-                      Nhận biết: Kali clorua là muối kết tinh màu trắng, nhiều khi được nhuộm màu đỏ để dễ phân biệt với các loại khác.

·                     Phân kali sunfate (K2SO4) là muối của hydroaxit kali (KOH) với axit sunfuric (H2SO4).

-                      Nhận biết: K2SO4 dạng muối kết tinh trắng, tinh thể to và màu sáng trong hơn KCl, có vị hơi đắng, ít chảy nước.

-                      Tỷ lệ K2O trong phân thường 46-52%. Cũng như đạm sulfate, bón kali sulfate ngoài việc cung cấp kali cho cây, còn có tác dụng tốt trong việc cung cấp thêm lưu huỳnh trên những đất đói lưu huỳnh.

Chú ý:  Ngoài các loại phân kali chính như trên, ở thị trường Việt Nam ta còn có phân Kali 40%. Loại phân này phổ biến ở Liên Xô, chứa khoảng 38-42% K2SO4 .

14.              Hỏi sử dụng phân kali như thế nào cho tốt?

Đáp: Để phát huy tốt tác dụng của phân kali, khi bón cần căn cứ vào điều kiện cụ thể sau:

·                     Điều kiện đất đai:

-                      Tất cả các dạng phân kali thông thường đều rất dễ tan trong nước, dễ bị rửa trôi như phân đạm thậm chí còn dễ bị rửa trôi hơn phân đạm. Nên khi bón vào đất, kali cũng có các cation khác có trong phân kali đều ở dạng ion hòa tan trong các dung dịch đất (K+, Na+, Mg2+). Một phần các cation bị hấp phụ vào keo đất đẩy ra các cation khác, tùy theo loại đất.

-                      Đất ít chua hay không chua, nhiều Ca2+, Mg2+, khi bón phân kali vào thì ion K+ sẽ đẩy ion Ca2+, Mg2+ ra khỏi đất, do đó bón lâu ngày, nhất là khi bón với lượng nhiều thì dễ làm cho đất bị chua hóa. Vậy nên phải bón vôi khử chua, bổ sung Ca2+, Mg2+ cho đất.

-                      Đất chua, bão hòa nhiều Al3+, H+ khi bón phân kali thì đẩy các ion Al3+, H+ này ra dung dịch đất làm đất bị chua tạm thời. Nếu đất quá chua mà không có vôi bón thì có thể lượng ion Al3+, H+ bị đẩy ra nhiều đủ gây độc cho cây trồng. Do đó phải bón vôi khử chua trước khi bón kali.

·                     Bón kali căn cứ vào loại cây:

-                      Nhóm 1: Rất mẫn cảm với Clo (Cl): thuốc lá, cây lấy tinh dầu, cam quýt, nho,....nên bón phân kali không có Clo.

-                      Nhóm : Mẫn cảm với Clo, thích hợp với nồng độ kali cao: khoai tây, cây họ đậu.

-                      Nhóm 3: Có thể bón những lượng kali cao như: bông, đay, lanh, dưa chuột,...

-                      Nhóm 4: Thích hợp với loại phân kali 40% K2O, tức là chịu được nồng độ bón kali thuộc trung bình (các cây có lấy hạt và đồng cỏ).

-                      Nhóm 5: Thích hợp nhất với phân kali có chứa một ít natri: củ cải đường, củ cải rau, cây lấy củ làm thức ăn gia súc thuộc họ hòa thảo.

-                      Trường hợp không có kali thì khắc phục bằng cách bón bằng tro bếp để thay thế kali, vì tro bếp hàm lượng kali khá cao, bón kết hợp vôi, tăng lượng tro bón lên nhiều lần.

-                      Cây lấy củ, lấy sợi, ăn quả như cam quýt đều cần kali nhiều hơn.

15.              Hỏi: Phân phức hợp là gì?

Đáp: Phân phức hợp là phân trong đó có chứa từ 2 hay nhiều nguyên tố dinh dưỡng cần thiết cho cây trồng.

·                     Loại cây này chủ yếu là hỗn hợp của 3 nguyên tố dinh dưỡng đa lượng (NPK).

-                      Sản xuất: Phân hỗn hợp được tạo thành bằng cách trộn các phân đơn (đạm, lân, kali) lại với nhau. Ví dụ trộn 40kg phân sulfate amon, 15kg supe lân, 28kg apatit nghiền và 17kg KCl, sẽ được 1 tạ phân hỗn hợp có thành phần NPK = 8-12-10. Trộn 40kg (NH4)2SO4, 40kg apatit và 120kg KCl được 1 tạ hỗn hợp có NPK=8-12-12. Tức là trong 1 tạ phân này có 8%N, 12%P2O5, 12%K2O.

-                      Hiện nay ở các nước tiên tiến người ta sản xuất phân hỗn hợp lỏng. Loại phân này bón được đều hơn, hiệu quả cao và nhanh hơn phân rắn. Phân lỏng thường có (15-15-15, 12-24-12, 10-30-10, 9-27-18,...).

·                     Ngoài phương pháp sản xuất bằng cách hỗn hợp như trên, phân phức hợp còn được sản xuất bằng cách hoa hợp (phân hóa hợp). Loại phân này các yếu tố dinh dưỡng được hóa hợp theo các phản ứng hóa học. Ví dụ phân Amophot: hóa hợp H3PO4 + NH3 = NH4H2PO4 hay diamophot: H3PO4 +2NH3 = (NH4)HPO4.

·                     Phân phức tạp:

Hóa hợp với nhau qua các phản ứng hóa lý học hay lý hóa học....Loại phân này ngoài NPK còn có thêm các thành phần khác như các nguyên tố vi lượng, kích thích sinh trưởng, thuốc trừ sâu.

16.              Hiểu như thế nào khi có một phân được viết ở bao bì hay người ta nói là phân NPK (8-12-12)?

Đáp: Khi có một phân được ký hiệu NPK 8-12-12, nghĩ là nói đến một phân hỗn hợp có thành phần dinh dưỡng gồm 8%N, 12%P2O5 và 12%K2O. Tức là trong 100kg phân NPK này có 8kg N (trương đương 8x2,17=17,36kg urea), 12kg P2O5 (tương đương 12x6,06=72,72kg lân supe) và 12kg K2O (tương đương 12x1,76=21,12kg KCl). Như vậy, khi mua,sử dụng phân hỗn hợp cần phải biết được thành phần của phân gồm có những gì mà mỗi thứ có bao nhiêu để tính toán lượng cần bón và các phân bón hỗ trợ. Khi bón hỗ trợ thì dùng các phân đơn (phân đạm, lân, kali) để bổ sung những chất còn thiếu theo yêu cầu của cây trông hay theo công thức bón chỉ đạo.

·                     Chú ý rằng hiện nay nông dân nhiều nơi,ngay cả ở Bắc Bình, Bình Thuận cũng còn nhầm lẫm rằng phân hỗn hợp NPK này là phân lân. Khi hỏi đển sử dụng phân lân nông đều trả lời có, hỏi đến loại phân lân gì thì mới biết đó là phân hỗn hợp, hay là lân hữu cơ của một số cơ sở sản xuất trong nước. Thực chất phân lân hữu cơ là phân hỗn hợp trong đó có một phần đáng kể là hữu cơ từ than bùn, phế thải,hỗn hợp với phân lân, đạm và kali.

2.2.            CÂN ĐỐI DINH DƯỠNG TRONG ĐẤT CHO CÂY

1.                  Thế nào là bón phân cân đối cho cây trồng?

Đáp: Bón phân cân đối là cung cấp cho cây đúng, đủ về số lượng cũng như tỷ lệ các chất dinh dưỡng một cách thích hợp với từng thời kỳ sinh trưởng, phát triển của cây. Bón phân cân đối là cơ sở đảm bảo cho năng suất cao, chất lượng tốt, hiệu quả kinh tế.

Nếu bón thừa hay thiếu nguyên tố nào đó đơi với nhu cầu dinh dưỡng của cây là chưa cân đối và không tốt cho cây trồng. Chẳng hạn bón quá nhiều đạm cho cây, mà không hoặc bón ít lân, cây kéo dài thời kỳ sinh trưởng và sẽ dễ lốp đổ, quả thường bị lép, đối với cây ăn quả như nhãn vãi...khó bảo quản.

Tuy nhiên bón cân đối ở đây không có nghĩa là phải bón lượng như nhau đối với các nguyên tố dinh dưỡng. Mỗi nguyên tố dinh dưỡng cây có nhu cầu ở một ngưỡng nhất định nào đó, đặc trưng cho cây và thời kỳ của nó. Tại ngưỡng đó việc cung cấp nguyên tố này sẽ phát huy hiệu quả dinh dưỡng đối với nhiều nguyên tố khác. Bón cân đối cho cây vừa tiết kiêm phân bón vừa nâng cao được phẩm chất nông sản. Như vậy khi bón phân cho cây trồng, điều quan trọng là người nông dân cần phải biết cân đối liều lượng và các loai phân bón sao cho không bị mất cân đối. Nghĩa là khi bón phân cần xác định tổ hợp bón thích hợp. Ví dụ NPK, nghĩa là bón đầy đủ đạm (N), lân (P) và kali (K). Hay bón NPKS, tức là ngoài NPK còn bón thêm nguyên tố trung lượng là lưu huỳnh(S) cho cây.

Cách tính lượng phân bón theo công thức được khuyến cáo, ta tính theo hệ số qui đổi từ hàm lượng chất tác dụng ra lượng phân thương phẩm để bón (bảng 15).

Phân bón

Loại phân

Chất tác động

Hệ số

Đạm

Urea

Sulfate đạm

N

2,17

5,00

Lân

Supe lân

Lân nung chảy

P2O5

6,06

6,06

Kali

KCl

K2SO4

K2O

1,76

2,00

Ví dụ: công thức bón phân cho ngô: 120, 60, 90. Nghĩa là:

1 ha ngô bón 120kg N, 60kg P2O5, và 90kg K2O. Tính ra lượng phân cần bón của mỗi loại cho 1ha là:

Urea: = Nx2,17=120x2,17=260,4kg/ha

Lân supe: =P2O5x6,06=60x6,06=363,6kg

KCl: K2Ox90=90x1,67=151,3kg.

2.3.            PHÂN HỮU CƠ VÀ TÁC DỤNG CỦA CHÚNG

1.                  Phân hữu cơ là gì, thành phần của chúng như thế nào?

Đáp: Phân hữu cơ bao gồm tất cả các loại phân có nguồn gốc là sản phẩm hữu cơ, như các loại phân chuồng, phân xanh, thân lá cây trồng được dùng để bón ruộng.

Thành phần của phân hữu cơ rất phong phú, trong đó chứa hầu hết các nguyên tố dinh dưỡng cần thiết cho cây trồng. Loại, hàm lượng các chất dinh dưỡng chứa trong phân hữu cơ phụ thuộc vào nguồn gốc của phân, biện pháp bảo quản.

Điều cần chú ý là phân hữu cơ, nhất là phân động vật chất lượng phân giảm đi rất nhiều khi bị phơi khô. Đây là một nhược điểm thường gặp phổ biến ở nông dân Bắc Bình, Bình Thuận. Khi phơi phân dưới nắng, nhiệt độ cao sẽ phân hữu phân nhanh chóng, các chất đạm trong phân bị giải phóng ra dạng khí amoniac, ba hơi dễ dàng. Đồng thời các vi sinh vật quý, các enzime trong phân cũng bị chết đi nhanh chóng.

Phân xanh, phơi khô cũng giảm chất lượng đáng kể. Khi phơi khô, mất một nguồn đọ ẩm cần thiết khi bón vào đất. Chất hữu cơ càng khô, thì quá trình phân hủy (khoáng chất) càng nhanh, nên tích lũy hữu cơ bị hạn chế. Đồng thời các men, enzime trong phân xanh cũng bị phân hủy khi phơi khô. Do đó để tăng hiệu lực phân xanh bón ruộng, tốt nhất là nên ủ với phân chuồng, trộn thêm lân, vôi rồi mới bón. Nếu không có điều kiện ủ mà đất đồi trồng cây dài ngày thì ép xanh, tủ gốc,vùi vào gốc trực tiếp.

Bảng 16. Thành phần dinh dưỡng trong một loại phân chuồng

Loại phân (%)

Trâu bò

Ngựa

Lợn

Phân:

-                      Nước

-                      Chất hữu cơ

-                      N (đạm)

-                      P2O(lân)

-                      K2O (kali)

-                      CaO (vôi)

-                      MgO (vôi)

 

 

77,5

20,3

0,45

0,23

050

040

011

 

71,3

25,4

0,58

0,28

0,63

0,21

0,14

 

72,4

25,0

065

0,19

0,60

0,18

0,09

Nước tiểu:

-                      Nước

-                      Chất hữu cơ

-                      N (đạm)

-                      P2O(lân)

-                      K2O (kali)

-                      CaO (vôi)

-                      MgO (vôi)

 

93,8

-

0,58

-

0,49

0,01

0,04

 

99,1

-

1,55

-

1,50

0,45

0,01

 

96,7

-

0,43

0,07

0,83

0

0,08

Bảng 17. Thành phần dinh dưỡng trong một số loại phân xanh

Loại cây phân xanh

Hàm lượng dưỡng chất (%)

N

P2O5

K2O

Cao

MgO

Quỳ dại